altaltaltaltaltalt

">

NĂM TRUNG - ĐỒNG HÀNH CÙNG BẠN, TIẾN TỚI THÀNH CÔNG


Trang Web|
Web liên kết :
Gỗ Tràm ghép dày 20, 25, 30, 35, 40mm SX mặt bàn, khung cửa Gỗ Thông ghép dày 10, 12, 22, 24mm SX mặt bàn, hông tủ, kệ gỗ Gỗ cao su ghép dày các loại SX thớt gỗ, bàn ghế, giường tủ gỗ
Từ Điển

Sơ lược ván ghép thanh


Hiện tại và tương lai những năm tới gỗ cao su vẫn là nguồn nguyên liệu chính cho ngành chế biến gỗ Việt Nam. Do đó việc tìm những giải pháp công nghệ mới trong chế biến và đa dạng hóa loại hình sản phẩm để nâng cao giá trị sử dụng của gỗ cao su thực sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Gỗ cao su là loại gỗ mềm, nhẹ, vân thớ, màu sắc đẹp có những tính chất cơ, lý, hóa phù hợp trong sản xuất đồ mộc nội thất.

Do đó, việc nghiên cứu để tạo ra một loại sản phẩm ván ghép thanh từ gỗ cao su nâng cao những tính chất cơ học và vật lý của gỗ để sử dụng trong sản xuất hàng mộc rất hữu ích cho quá trình sản xuất và phục vụ được nhu cầu sử dụng gỗ của người tiêu dùng.

Đồng thời quy trình sản xuất phải đơn giản, dễ thực hiện và hóa chất sử dụng phải có giá thành hợp lý, không gây độc hại cho người sử dụng và không làm biến đổi màu sắc của gỗ, có tính đa năng (vừa có tác dụng chống cháy vừa chống được nấm, mốc, mọt)

Ngày nay nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ  (Chi tiết mộc, bàn ghế gỗ, tủ gỗ, cửa gỗ, cầu thang gỗ, ... ) rất cao. Gỗ có rất nhiều ưu điểm để thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho đời sống con người như:

+ Gỗ có màu sắc, vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu và dễ trang sức tạo hoa vân bề mặt.

+ Cách điện, cách nhiệt, ngăn âm tốt, nhiệt giãn nở bé.

+ Nhẹ, khối lượng thể tích trung bình từ 0,5¸ 0,7g/cm3 nên rất thuận tiện cho việc vận chuyển nhất là vận chuyển thủy.

+ Gỗ mềm nên có thể dùng máy móc, công cụ để cưa xẻ, khoan bào, tách chẻ với vận tốc cao.

+ Dễ phân ly bằng hóa chất dùng để sản xuất giấy và tơ nhân tạo.

Bên cạnh những ưu điểm kể trên gỗ có những nhược điểm rất cần được chú trọng như:

+ Sinh trưởng chậm, có nhiều khuyết tật tự nhiên, tính chất biến động tùy theo điều kiện sinh trưởng.

+ Hút ẩm và thoát hơi nước mạnh nên dễ bị cong vênh, biến hình, nứt nẻ, cường độ và các tính chất khác thay đổi.

+ Dễ bị cháy, dễ biến màu và dễ mục.

Sự hình thành và phát triển của ván ghép thanh

Ván ghép thanh là một loại sản phẩm ván nhân tạo xuất hiện từ rất sớm. Nhưng nó chỉ phát triển mạnh sau năm 1970. Vùng có khối lượng lớn nhất là Châu Âu, tiếp đó là Châu Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản là nước sản xuất ván ghép thanh nhiều nhất, sau đó đến Hàn Quốc, Indonesia. Ở Việt Nam, ván ghép thanh chỉ mới phổ biến trong những năm gần đây, nhưng nó mang lại cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải trong phân xưởng xẻ, cành ngọn trong khai thác. Không chỉ dừng lại ở đó mà phạm vi sử dụng của nó được dùng rất rộng rãi như trong hội trường, phòng làm việc, phòng khách, phòng ngủ, khách sạn... Và ván ghép thanh cũng có một số ưu điểm nổi bật như độ ẩm của ván thấp, cách nhiệt và cách âm tốt, bền, kích thước rộng, giá thành rẻ...

Đặc điểm tính chất của ván ghép thanh

Do những đặc tính cơ lý ưu việt, kiểu dáng màu sắc phong phú, nên đồ mộc làm từ ván gỗ ghép thanh thích hợp với nội thất hiện đại. Nguồn gỗ khai thác rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt, vì vậy sản xuất gỗ nhân tạo là hướng ưu tiên nhằm giải quyết nguyên liệu.

Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất và các sản phẩm khác.

Các cách thức gỗ ghép: song song, mặt, cạnh, … Gỗ ghép song song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván, thị trường Nhật rất chuộng cách ghép này.

Phân loại ván ghép thanh

Ván ghép thanh được hình thành trên nguyên tắc sử dụng hợp lý gỗ nhỏ và khắc phục một số nhược điểm của gỗ cả về khuyết tật tự nhiên như mắt sống, mắt chết, gỗ nhỏ, gỗ xoắn…. Loại ván này có kết cấu tương đối đa dạng, song đặc điểm chung của kết cấu là ván được cấu tạo bởi hai phần chính: phần lõi và phần phủ mặt. Phần lõi có kết cấu đa dạng. Kết cấu của lõi có quyết định đối với từng loại ván. Phần phủ mặt là một hay nhiều lớp ván mỏng được dán phủ lên một hoặc hai bề mặt của ván lõi.

Lõi có thể là những thanh gỗ nhỏ ghép lại, đồng thời cũng có thể sử dụng các vật liệu khác như ván mỏng (ván bóc)…

Do sự đa dạng của kết cấu lõi nên có nhiều cách gọi khác nhau cho từng loại sản phẩm. Theo tiêu chuẩn BS 6100-1984, ván ghép thanh chia thành một số loại chủ yếu sau:

-         Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt.

-         Ván ghép thanh khung rỗng.

-         Ván ghép thanh lõi đặc có phủ mặt.

* Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt:

Sản phẩm thu được bằng cách ghép các thanh gỗ có kích thước nhỏ, ngắn lại với nhau nhờ chất kết dính. Loại sản phẩm này yêu cầu nguyên liệu có chất lượng tương đối cao, màu sắc đồng đều. Ở Việt Nam hiện nay thường sản xuất từ gỗ cao su, tràm bông vàng, thông….

Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất cần có một số yêu cầu bắt buộc sau:

-       Các thanh thành phần phải gia công đúng quy cách.

-       Phải đảm bảo độ khít kín khi xếp các thanh ghép.

-       Độ ẩm thanh ghép MC = 8 ± 2 %

-       Xếp các thanh kế tiếp nhau theo phương pháp đối xứng vòng năm.

-       Lượng keo tráng 150 – 200 g/m2.

-       Áp suất ép cạnh phụ thuộc vào chất lượng bề mặt thanh song song khoảng 8-10 kG/cm2.

* Ván ghép thanh lõi đặc có phủ mặt:

Sản phẩm thu được bằng cách dán ép các tấm ván mỏng (veneer) lên cả hai bề mặt của tấm gỗ ghép với sự tham gia của chất kết dính trong những điều kiện nhất định. Ván ghép thanh có phủ mặt chia làm hai loại: Blockboard và Laminboard. Hai sản phẩm này khác nhau chủ yếu về kích thước chiều rộng của các thanh thành phần để tạo nên ván lõi.

* Ván ghép thanh khung rỗng:

Sản phẩm thu được bằng cách dán ép các tấm ván mỏng (veneer) hoặc ván dán có chiều dày nhỏ lên các khung gỗ rỗng với sự tham gia của chất kết dính trong những điều kiện nhất định. Loại hình sản phẩm này chủ yếu dùng cho sản xuất đồ mộc, nên ở Việt Nam còn gọi là ván mộc.

Đặc điểm nổi bật của loại sản phẩm này là: chiều dày của sản phẩm lớn song khối lượng thể tích nhỏ, chính vì vậy rất thuận tiện cho quá trình gia công lắp ráp.

 Một số ưu điểm chủ yếu của các loại ván ghép thanh:

-           Nguyên liệu để sản xuất chủ yếu từ gỗ có kích thước nhỏ, độ bền cơ học thấp.

-           Sản phẩm đồng đều về độ ẩm, đa dạng và ổn định về kích thước.

-           Linh động khi liên kết và lắp ráp.

-           Giá thành thấp (tính theo m3 sản phẩm) và tiết kiệm gỗ.


(Nguồn tổng hợp)

 

 

Các tin khác